TRỊ LIỆU TÂM LÝ DỰA TRÊN CHÁNH NIỆM

Các phương pháp trị liệu dựa trên chánh niệm thúc đẩy việc thực hành Chánh niệm như một phần quan trọng để có sức khỏe thể chất và tinh thần tốt. Được thiết kế để thúc đẩy sự tập trung, chú ý của một người vào trải nghiệm hiện tại theo cách không phán xét, các phương pháp can thiệp dựa trên chánh niệm, dù được cung cấp riêng lẻ hay trong môi trường nhóm, có thể mang lại lợi ích cho những người đang tìm kiếm trị liệu cho bất kỳ mối lo ngại nào.

13 Mindfulness Exercises to Improve Employee Well-being

CHÁNH NIỆM LÀ GÌ?

Hiện tại, không có định nghĩa nào được chấp nhận rộng rãi cho “chánh niệm”. Thuật ngữ này đã được chứng minh là khó định nghĩa do có những niềm tin khác nhau về chính xác chánh niệm là gì, những quan điểm khác nhau về cách đạt được chánh niệm, những quan điểm khác nhau về mục đích của chánh niệm và thách thức trong việc mô tả khái niệm này bằng thuật ngữ y học và tâm lý học. 

Tuy nhiên có một số ý tưởng chung có liên quan đến khái niệm chánh niệm. Về cơ bản, chánh niệm có thể được hiểu là trạng thái mà một người nhận thức rõ hơn về tình trạng thể chất, tinh thần và cảm xúc của mình trong thời điểm hiện tại mà không trở nên phán xét. Các cá nhân có thể chú ý đến nhiều trải nghiệm khác nhau, chẳng hạn như cảm giác cơ thể, nhận thức và cảm xúc, đồng thời chấp nhận chúng mà không bị ảnh hưởng bởi chúng. Thực hành chánh niệm được cho là có thể giúp mọi người kiểm soát suy nghĩ của mình tốt hơn thay vì bị chúng kiểm soát.

Ngoài việc ngày càng phổ biến trong lĩnh vực sức khỏe thể chất và tinh thần, phương pháp chánh niệm cũng đang được sử dụng trong một số lĩnh vực khác: Tại Hoa Kỳ, các bài tập chánh niệm thường được áp dụng trong trường học, doanh nghiệp, ngành giải trí và quân đội. 

VIỆC SỬ DỤNG CHÁNH NIỆM TRONG TRỊ LIỆU

Ở thế giới phương Tây, các biện pháp can thiệp dựa trên chánh niệm đang trở thành phương pháp được chấp nhận rộng rãi để giải quyết các triệu chứng liên quan đến nhiều thách thức về sức khỏe tâm thần và/hoặc các mối quan tâm về cảm xúc thường gặp. Phương pháp tiếp cận chánh niệm có nguồn gốc từ các truyền thống Phật giáo cổ xưa như  thiền Vipassana và Thiền tông.

Hiện tại, có bốn mô hình trị liệu được công nhận có sự kết hợp thực hành chánh niệm:

  • Vào  những năm 1970 , Jon  Kabat-Zinn, người sáng lập  chương trình Giảm căng thẳng dựa trên chánh niệm (MBSR), là một trong những cá nhân đầu tiên cố gắng tích hợp các nguyên tắc chánh niệm của Phật giáo vào công việc của mình trong khoa học và y học.
  • Cũng trong những năm 1970, Marsha Linehan đã phát triển DBT với sự hỗ trợ của một số ảnh hưởng tâm linh phương Tây và phương Đông.
  • ACT, được giới thiệu vào cuối  những năm 1980 bởi Steven Hayes, Kelly Wilson và Kirk Strosahl, ​cũng kết hợp các ý tưởng và kỹ thuật phương Đông.
  • Vào đầu  thế kỷ 21, Zindel  Segal, Mark Williams và John Teasdale đã xây dựng dựa trên công trình của Kabat-Zinn để phát triển MBCT. 

Mặc dù những cách tiếp cận này đều liên quan đến các kỹ thuật chánh niệm, nhưng có những khác biệt nhỏ giữa mỗi phương pháp. MBSR và MBCT tích cực dạy thiền chánh niệm, nhưng MBCT cũng tích hợp các kỹ thuật trị liệu hành vi nhận thức như một phần của điều trị. DBT và ACT không dạy thiền chánh niệm mà thay vào đó sử dụng các bài tập chánh niệm khác để nâng cao nhận thức và tập trung sự chú ý. Ngoài ra, trong khi MBSR và MBCT tập trung vào quá trình phát triển chánh niệm cũng như mọi suy nghĩ liên quan thì DBT và ACT tập trung chủ yếu vào trải nghiệm nhận thức trong trạng thái chánh niệm.

KỸ THUẬT CHÁNH NIỆM ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG TRỊ LIỆU

Các phương pháp tiếp cận dựa trên chánh niệm thường được thực hiện thông qua việc sử dụng thiền chánh niệm, mặc dù chánh niệm có thể đạt được thông qua nhiều kỹ thuật khác nhau. Trong khi thiền chánh niệm, nhà trị liệu thường sẽ hướng dẫn cá nhân hoặc nhóm đang trị liệu hướng sự tập trung của họ vào thời điểm hiện tại. Những người tham gia được đào tạo để tập trung vào một đối tượng cụ thể. Nếu những người tham gia nhận thức được rằng suy nghĩ của họ đang rời xa hiện tại, họ được khuyến khích để ý xem mình đang ở đâu và đang làm gì trước khi đưa sự chú ý trở lại thời điểm hiện tại mà không phản ứng hay phán xét bản thân. Các nhà trị liệu có thể giúp những người đang điều trị hiểu rõ hơn và giải quyết những cảm xúc cũng như cảm giác thể chất liên quan đến nhận thức của họ . 

Nhiều loại thiền chánh niệm được thực hành trong và ngoài môi trường lâm sàng. Thiền chánh niệm là một kỹ thuật phổ biến được sử dụng để đạt được chánh niệm, nhưng có thể đạt được chánh niệm mà không cần thiền. Một khi kiến ​​thức về thực hành chánh niệm được phát triển, những người đang điều trị thường được khuyến khích tích hợp chánh niệm vào cuộc sống hàng ngày của họ, đặc biệt là trong môi trường phi lâm sàng. Chánh niệm có thể đặc biệt quan trọng trong những trải nghiệm tràn ngập cảm xúc, vì việc thực hành thường có thể giúp các cá nhân duy trì cảm giác kiểm soát.

Các động tác yoga nhẹ nhàng và ngồi, đi bộ hoặc thiền trên núi có thể được sử dụng trong các phương pháp chánh niệm như một cách nâng cao nhận thức về các cảm giác thể chất. Các tín hiệu bằng lời nói giúp người trị liệu duy trì nhận thức về  chuyển động, hơi thở và cảm giác trong một số bài tập khác nhau. Các bài tập thở, thiền quét cơ thể và hình ảnh có hướng dẫn cũng thường được sử dụng trong các phương pháp chánh niệm. Cuối cùng, người được trị liệu được khuyến khích thực hành chánh niệm trong cuộc sống hàng ngày. Việc tiếp tục quá trình trị liệu này cho phép cá nhân quan sát, khám phá và trải nghiệm chánh niệm trong môi trường phi lâm sàng và sau đó kiểm tra trong phiên, những tác động và trở ngại gặp phải trong cuộc sống hàng ngày. Việc quan sát và kiểm tra kết hợp thường có thể trở thành chất xúc tác cho việc điều chỉnh hành vi và suy nghĩ.

CÁC CAN THIỆP DỰA TRÊN CHÁNH NIỆM CÓ THỂ GIÚP ÍCH NHƯ THẾ NÀO? 

Chánh niệm thường được kết hợp vào các phương thức trị liệu khác như một phần của phương pháp điều trị tổng hợp. Ngay cả những suy nghĩ tiêu cực nhỏ cũng có thể tích tụ và/hoặc vượt khỏi tầm kiểm soát, dẫn đến những lo lắng như trầm cảm, lo lắng và có ý định tự tử. Tuy nhiên, các chuyên gia sức khỏe tâm thần đã nhận ra rằng chánh niệm có thể mang lại lợi ích to lớn vì nó có thể giúp mọi người có khả năng tách mình tốt hơn khỏi những suy nghĩ, cảm xúc và cảm giác cơ thể tiêu cực có thể hiện diện, thường là trước khi chúng trở nên quá áp đảo. Những người có thể đạt được trạng thái nhận thức này có thể thấy dễ dàng hơn khi thực hiện các chiến lược trị liệu khác nhằm giải quyết bất kỳ nhận thức có hại nào nhằm ngăn chặn những tác động tiêu cực. Thực hành chánh niệm thường xuyên được cho là sẽ giúp hiểu sâu hơn về tâm lý và chữa lành cảm xúc theo thời gian. 

Các biện pháp can thiệp dựa trên chánh niệm, thường nhằm mục đích làm giảm các triệu chứng căng thẳng, các vấn đề về sức khỏe tâm thần và nỗi đau thể xác, có thể được sử dụng để giải quyết và điều trị một loạt các triệu chứng và mối quan tâm. 

  • Giảm căng thẳng dựa trên chánh niệm thường có thể giúp mọi người giải quyết căng thẳng, đau mãn tính, ung thư, lo lắng, trầm cảm và các vấn đề mãn tính khác. 
  • MBCT thường là một phần của phương pháp điều trị trầm cảm tái phát, lo lắng, rối loạn tâm thần, các vấn đề về ăn uống và thực phẩm, lưỡng cực, các cơn hoảng loạn, tăng động giảm chú ý và căng thẳng sau chấn thương, cùng những bệnh khác.
  • DBT được sử dụng chủ yếu trong điều trị ý tưởng tự tử, nhân cách ranh giới, tự làm hại bản thân, phụ thuộc vào chất gây nghiện, các vấn đề về ăn uống, trầm cảm và PTSD. 
  • ACT là một phương pháp thường được sử dụng trong điều trị lo âu, trầm cảm, phụ thuộc vào chất gây nghiện, đau mãn tính, rối loạn tâm thần và ung thư.

Nguồn: https://www.goodtherapy.org/learn-about-therapy/types/mindfulness-based-interventions

Biên tập: Martin Minh Điệp, VCP Tâm lý học tâm thức Việt Nam

Tìm hiểu thêm các bài viết về trị liệu tâm lý dựa trên Chánh niệm: Tại đây
Bài viết liên quan