
Để nghiên cứu về niềm tin các yếu tố chi phối cuộc đời 1 người, các nhà tâm lý học đứa ra khái niệm tiêu điểm kiểm soát, khái niệm này được Julian Rotter đưa ra vào đầu những năm 1960.
Rooter kết luận tiêu điểm kiểm soát bên trong liên quan đến kì vọng của mỗi người về điều củng cố hành vi của họ là do chính bản thân hành vi hay tính cách cá nhân, còn tiêu điểm kiểm soát bên ngoài là do kì vọng về điều củng cố đến từ:
(1) may mắn, cơ hội.
(2) dưới sự kiểm soát của những người quyền lực khác.
(3) yếu tố không thể dự báo trước được, cá nhân không rõ kết quả hành vi phụ thuộc vào điều gì.
Khái niệm này được các nhà nghiên cứu sau Rotter tiếp tục khai thác. Robinson, Shaver & Wrightsman (1991) cho rằng tiêu điểm kiểm soát là niềm tin của con người giúp lý giải vì sao người này nỗ lực chủ động đối diện với các khó khăn, còn người khác lại dễ bỏ cuộc, phó mặc cho số phận.
Shapiro, Shwartz, Austin (1996) (dẫn theo April, Dharani & Peters, 2012) nhận định tiêu điểm kiểm soát là niềm tin cá nhân về các yếu tố chi phối cuộc đời họ.
Người có tiêu điểm kiểm soát bên trong tin rằng những điều đến với họ là kết quả do nỗ lực hay khả năng của bản thân (Carrim & cs, 2006), nghĩa là có sự liên hệ mật thiết giữa kết quả hành vi và cố gắng cá nhân. Họ là những người làm chủ số phận của mình, sáng tạo, tích cực thực hiện mục tiêu, thành công trong học tập và duy trì các mối quan hệ xã hội.
Ngược lại, người có tiêu điểm kiểm soát bên ngoài tin rằng hành vi của họ phụ thuộc vào những điều bên ngoài khả năng kiểm soát cá nhân. Họ thường cho rằng yếu tố kiểm soát là những người có quyền lực hay sự may rủi (Levenson, 197). Họ ít nỗ lực, cố gắng để thay đổi tình huống, thường có xu nguy cơ trầm cảm cao hơn (Parija & Shukla, 2013). Tuy nhiên, trong những trường hợp mà môi trường không đáp ứng lại hành vi của họ, họ lại là những người có thể thư giãn và dễ hài lòng hơn (Hans, 2000)
Bạn đang dùng tiêu điểm kiểm soát bên trong hay bên ngoài?
Nguồn: Tổng hợp
——–

