
2 loại định hướng mục tiêu
Xu hướng mục tiêu là định hướng mục tiêu mà cá nhân hướng tới (JA Eison, 1970). Carol S. Dweck & Ellen L. Leggett chia xu hướng mục tiêu thành 2 loại:
- Mục tiêu hướng tới giá trị bên ngoài (Performance Goals- PG): ở đó cá nhân quan tâm tới việc đạt được những đánh giá tích cực về khả năng của họ.
- Mục tiêu phát triển bản thân (Learning Goals – LG): ở đó cá nhân quan tâm tới việc tăng cường năng lực của họ
Andrew Elliot và Macy Church (1997) ở trường Đại học Rochester đã chỉ ra những điểm quan trọng về động lực đạt mục tiêu của sinh viên . Vào đầu khoá học, họ cho các sinh viên trả lời các câu hỏi về mức độ tương ứng của họ với những dạng định hướng mục tiêu trong động lực đạt mục tiêu. Vào cuối khoá học, những sinh viên này hoàn tất việc đo cảm nhận của họ khi trải nghiệm khoá học. Khác với Dweck & Ellen L. Leggett, họ đã phân xu hướng mục tiêu ra 3 yếu tố chính :
- Mục tiêu phát triển bản thân: Những người có mục tiêu đạt được sự phát triển có động lực nội tại để học hỏi những điều mới, thú vị và quan trọng. Họ thích những khoá học có sự thử thách nếu chúng giúp họ học được điều mới và thất vọng bởi những khoá học dễ dàng cho họ điểm cao nhưng học được rất ít.
- Mục tiêu hướng tới giá trị bên ngoài- tiếp cận: Những người với mục tiêu tiêu hướng tới giá trị bên ngoài – tiếp cận cao được thúc đẩy để học thật chăm chỉ nhằm đạt được điểm cao hơn những sinh viên khác và giành được sự tôn trọng từ những người xung quanh.
- Mục tiêu tiêu hướng tới giá trị bên ngoài – né tránh thất bại: Những người có mục tiêu tiêu hướng tới giá trị bên ngoài – né tránh cao được thúc đẩy để học chăm chỉ nhằm tránh không phải nhận điểm xấu và bị người khác đánh giá là không thông minh.
Những dạng khác nhau của định hướng mục tiêu có liên hệ với những kết quả khác nhau vào cuối khoá học. Những sinh viên với điểm mục tiêu phát triển bản thân cao hơn cho biết họ đã tận hưởng khoá học hơn. Điều này đặc biệt đúng nếu họ còn có điểm thấp về mục tiêu hướng tới giá trị bên ngoài – tiếp cận được thúc đẩy để đạt điểm tốt nhằm gây ấn tượng với người khác can thiệp vào sự tận hưởng khoá học.
Những sinh viên với điểm mục tiêu hướng tới giá trị bên ngoài – tiếp cận cao giành có điểm số tốt hơn, đặc biệt nếu họ có điểm mục tiêu học tập thấp. Mong muốn gây ấn tượng với người khác bằng cách đạt được điểm cao đúng là có dẫn tới những kết quả tốt trên bảng điểm của họ, nhưng tiếc rằng, mong muốn học hỏi kiểu vì điểm số ấy đôi khi lại gây rắc rối cho việc đạt được điểm tốt.
Những sinh viên sở hữu điểm số thấp nhất cũng là những người có điểm mục tiêu phát triển và điểm mục tiêu hướng tới giá trị bên ngoài -tiếp cận thấp (họ có ít kích thích tích cực ở cả hai loại mục tiêu này để học những học liệu).
Những sinh viên có điểm mục tiêu hướng tới giá trị bên ngoài – né tránh thất bại cao vào đầu khoá học cũng cho biết họ tận hưởng nội dung khoá học ít hơn những người khác. Nỗ lực chỉ để tránh thất bại hiếm khi tạo ra những trải nghiệm tích cực và có ý nghĩa.
Những khác biệt về định hướng mục tiêu này còn được thể hiện rõ hơn trong quá trình học hỏi của một cá nhân.
Sự khác biệt giữa 2 xu hướng mục tiêu
|
Mục đích |
Đối tượng |
Cách thức
|
Thái độ |
|
| Mục tiêu phát triển bản thân | Trở nên hoàn thiện, tinh thông hơn | – Học hỏi những kiến thức thông tin mới để vượt qua những giới hạn đã có, gia tăng khả năng và hiểu biết của bản thân
– So sánh với chính mình – Quan tâm đến quá trình |
– Thường muốn tự mình tìm ra vấn đề và cách giải quyết – Khi tìm kiếm giúp đỡ, thường tìm những gợi ý, lí giải hoặc những thông tin liên quan đến vấn đề chứ không phải những câu trả lời nhanh chóng, dễ dàng phá bỏ thử thách mà họ đang muốn vượt qua.
|
– Tìm kiếm những thách thức đúng tầm.
– Kiên định và có ít cảm xúc tiêu cực hơn khi không ngay lập tức làm tốt. |
| Mục tiêu hướng tới giá trị bên ngoài |
– Trở nên điêu luyện, thành thục hơn – Có được sự tán thành, tôn trọng từ người khác
|
– Phát triển, rèn giũa những kỹ năng, năng lực đã có.
– So sánh với những người khác – Quan tâm đến kết quả |
– Có xu hướng tìm kiếm những thông tin so sánh giữa họ với người khác hơn là những thông tin về cách thức cải thiện phần thực thi/trình diễn của mình. – Khi tìm kiếm giúp đỡ, thường muốn tìm câu trả lời đúng chứ không tìm những lời khuyên, sự hỗ trợ để có thể tự tìm ra câu trả lời.
|
– Tránh né những thách thức khi không tự tin sẽ thành công.
– Dễ bỏ cuộc khi gặp thất bại. |
——–

